Articles by "Xã xì trét"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng

(iHay) - Người dân Nam bộ có câu vè: “Chợ không đàn bà là chợ Cầu Ông Lãnh”. Tréo ngoe là ngôi chợ này mang tên người đàn ông nhưng người họp chợ lại đa số là đàn bà.

Chợ mang tên đàn ông

< Chợ Ông Lãnh (ảnh xưa).

Chợ Cầu Ông Lãnh vốn nằm trên đường Nguyễn Thái Học, Q.1, TP.HCM, được xây cất năm 1929. Chợ chuyên bán những loại trái cây tươi như cam, bưởi, quýt, dừa, dưa hấu, ổi, xoài và các thứ rau sống. Hàng được các ghe thuyền từ lục tỉnh chở lên đổ cho các chủ vựa ở chợ.

Chủ vựa bán sỉ hàng lại cho dân buôn bán ở các chợ nhỏ trong phố về bán lại. Chợ họp suốt ngày đêm nhưng từ nửa đêm tới sáng là đông và nhộn nhịp nhất. Cạnh chợ Cầu Ông Lãnh còn có một ngôi chợ nhỏ gọi là chợ Cầu Muối, chuyên bán cá tươi, tôm, cua… cũng do các ghe chài mang lên. Tuy nhiên, người ta vẫn hay gọi chung khu này là chợ Cầu Ông Lãnh, vì hai ngôi chợ sát nhau, cùng gần một nơi có cây cầu mang tên Ông Lãnh.

< Bến cá chợ Cầu Ông Lãnh (ảnh xưa).
Dulichgo
Lý do có cái tên này vì nơi đây có con rạch (nói là rạch chứ khi trước ghe thuyền đi lại ra cửa sông lớn rất rộng). Từ cuối đường Nguyễn Thái Học khi muốn qua bến Vân Đồn, khu Khánh Hội, Q.4, người ta phải dùng ghe mới sang được. Lúc đó có một ông Lãnh hảo ý đã bỏ tiền ra làm một cây cầu gỗ để dân chúng đi lại cho thuận tiện. Sau này, đến năm 1929, người Pháp cho xây dựng lại cây cầu bằng xi măng dài 120 m, do một hãng làm cầu của Pháp thiết kế. Đến nay, cây cầu đã gần một thế kỷ nên bị hư hỏng và đã được xây dựng lại.

Nhiều người thắc mắc: Ông lãnh ở đây là ông lãnh binh hay lãnh sự? Vì ở gần rạch này phía Chợ Lớn cũng có dinh của một viên lãnh sự VN là ông Nguyễn Thành Ý ở. Phải chăng cây cầu được dựng lên do một nhân vật tên tuổi tại địa phương nên người ta gọi là Cầu Ông Lãnh? Hay ông lãnh sự Thành Ý lúc đó cũng có hảo tâm đã góp tiền dựng nên cầu này cho dân chúng đi?

Cuối cùng, giả thuyết thứ hai nói tiền xây dựng cây cầu này là do một lãnh binh bỏ tiền ra nên người địa phương nhớ công ơn đặt cho tên cầu là cầu “Ông Lãnh” là thuyết phục hơn cả. Nhưng tên thật của “Cầu Ông Lãnh” này là gì thì không có sách báo nào từ xưa tới nay ghi lại. Người viết bài này phải tìm tới đình Nhơn Hòa, Q.1 thăm hỏi thì vị trụ trì cao niên ở đây cho biết:
Dulichgo
“Đình Nhơn Hòa đã được xây dựng hơn 150 năm, vào khoảng thế kỷ 19 và đã được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1852). Đình được xây dựng theo lối kiến trúc xưa, có chính diện, võ ca, nhà túc mang sắc thái của một ngôi đình làng cổ đang thờ ba vị thần: Thành hoàng bổn cảnh (thần làng), thần Trần Triều hiển thánh, tức Linh vị đức Trần Hưng Đạo và thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (một vị tướng của triều Nguyễn, trấn giữ đồn Thủ Thiêm - Cây Mai, chống lại quân Pháp khi chúng tấn công thành Gia Định)... Năm 1885, học giả Trương Vĩnh Ký có viết: “Chiếc cầu gỗ do ông lãnh binh gần đó cho bắc qua, chắc là ông lãnh Binh Thăng này chứ không phải ai khác”.

Vậy, ông lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng có lẽ chính là nhân vật đã được người dân đặt tên cho cây cầu cùng ngôi chợ cũ nổi tiếng và được thờ trang trọng ở đình Nhơn Hòa để ghi ơn. Hiện nay tên ông Lãnh Binh Thăng còn được đặt cho một con đường ở Q.11, TP.HCM.

Ngôi chợ trời đầu tiên tại Sài Gòn
Dulichgo
Người Việt ta vốn dễ dãi khi đặt tên, từ tên nhân vật thành tên địa phương như một ngã ba ở khu Chí Hòa, có một ông tên là Tạ. Ông này làm nghề bốc thuốc, hiệu thuốc của ông đặt ở ngã ba nên mấy chục năm qua, tên ngã ba Ông Tạ được nhiều người biết đến dù trong giấy tờ hành chính không ghi. Địa danh Gò Vấp cũng vậy. Từ gần một thế kỷ qua, ở khu vực này có một cái gò nhiều cây vắp lớn, một loại danh mộc nên người địa phương kêu là Gò Vắp, đọc trại lâu ngày trở thành Gò Vấp. Cứ như thế, nhiều địa danh Sài Gòn xưa được dân gian hóa, như tên các ngôi chợ trời dưới đây.

Nếu miền Bắc có chợ trời đầu tiên ở núi Sài Sơn, tỉnh Sơn Tây, thì miền Nam cũng có chợ đầu tiên ở đất Bến Nghé. Ngôi chợ này người dân quen gọi là chợ Chồm hổm hay chợ Lộ thiên, nằm trên một bãi đất trống gần dinh thành Ô-ma của Pháp. Ngày xưa chợ này họp vào buổi sáng, người cắp bửng, thúng, rau, thịt, hoa quả tới bán và không dựng quán, tủ, sập. Người mua kẻ bán cũng chỉ là những người dân địa phương và có tên gọi rất lạ: chợ “Cây da thằng mọi”. Trong tập Cổ Gia Định vịnh có ghi rõ: “Cây da thằng mọi, coi bán đủ thuốc xiêm cau mứt. Cái cầu Cao Miên thấy làm nguyên cột vắp ván chai”.

Xin đừng vội suy đoán nơi đây có người mọi làm nên ngôi chợ hay một người mọi coi chợ. Mọi là danh từ người Tây phương gọi những dân tộc ít người ở miền núi. Nguyên do là chỗ chợ có một cây đa to lớn, tán lá sum suê, và ở chợ này có bán một thứ đồ dùng trong nhà mà ở chợ khác không có là một loại đèn thắp bằng dầu đậu phộng hoặc dầu dừa, làm bằng đất nung. Kiểu đèn nắn hình một người hai chân quỳ và hai tay chắp lại, trên đỉnh đầu thì đội thếp dầu (lúc đó người ta cứ gọi chung là người mọi).

Ngôi chợ trời đầu tiên “Cây da thằng mọi” sau này được xây dựng lại và có tên mới, rất ý nghĩa là chợ Thái Bình (nằm góc Nguyễn Trãi - Cống Quỳnh, Q.1, TP.HCM).

Theo Lý Nhân Phan Thứ Lang (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

(iHay) - Đầu hè, tiết trời Mộc Châu (Sơn La) vẫn mát mẻ, chứ không oi bức ngột ngạt. Mấy anh bạn ngồi uống trà bảo nhau mùa này chẳng có gì chơi, như ở biển còn được tắm, được ăn hải sản. Rồi một ý tưởng vụt lóe lên: không có biển ta ra suối. Thế là chúng tôi về xã Mường Tè, Vân Hồ bắt cá suối.

Vượt những con đường quanh co uốn lượn, có lúc đi dưới thung lũng, có lúc lại vọt lên đỉnh đèo, xe như đi trong sương mây trắng, gió mát rượi, thoang thoảng mùi hoa của những triền ngô đang trổ cờ.
Sau hơn 2 giờ đồng hồ, có mặt ở Mường Tè, chúng tôi ăn trưa với với các món ăn đặc sản núi rừng: canh nhái nấu mẻ, nộm rau rừng, cá sông gói lá đồ…

Ăn uống qua loa, sau giấc ngủ trưa chúng tôi đi dạo quanh bản và tiến dần ra bờ suối. Sau cơn mưa ban chiều, nước suối hơi đục, nhưng bà con địa phương, nói càng mưa to thì cá càng nhiều.

Đoạn suối chúng tôi chọn để bắt đầu đánh cá khá rộng, hai bên là những ruộng lúa đang làm đòng xanh biếc. Nhóm khách du lịch chúng tôi đeo giỏ, xách túi chài như “dân chuyên nghiệp”.
Dulichgo
Đầu tiên, chưa phải là học bắt cá, mà là học…. lội suối, bởi những kẻ lần đầu bước chân xuống suối như tôi, trước tiên phải biết cách bước chậm, dò dẫm để xem phía trước nông hay sâu, bùn hay sỏi rồi mới dồn cả trọng tâm vào bước chân được. Học đứng vững và di chuyển thoải mái dưới suối rồi mới bắt đầu học quăng chài.

Với bà con địa phương, để bắt cá suối cũng có nhiều đồ dùng và cách thức, tùy mùa, tùy dòng suối nông hay sâu, nước chảy xiết hay không mà dùng đó, chài, vợt, hay thậm chí chặn dòng tát nước, hoặc dùng thuốc mê (loại thuốc dùng lá cơi và một số loại cây khác để làm cá say nổi lên rồi bắt).

Lần này, đi với tôi là 3 tay quăng chài có nghề, họ hướng dẫn cách quăng chài tỉ mỉ, thế mà lóng ngóng mất 15 phút mới bắt đầu quăng được chài ra tương đối tròn theo tiêu chuẩn. Quăng được chài ra rồi, kéo chài lên thế nào để cá khỏi lọt ra ngoài lại cũng phải học, chưa nói đến việc nhìn nước biết nông sâu, nhìn dòng chảy biết chỗ nào có nhiều cá.

Nếu đứng trên bờ nhìn, chắc thấy việc mấy người đi dọc suối cầm chài quăng xuống suối rồi lại thu lên, nhặt cá bỏ vào giỏ là bình thường. Nhưng có xuống suối thực tế tham gia mới thấy vui, đó là cảm giác hào hứng, hi vọng khi quăng chài xuống, cái háo hức khi thu chài lên, và sự rạng rỡ khi trong chài có vài ba con cá to cỡ ngón tay cái.

Nó khiến chúng tôi quên cả sự mệt mỏi khi hàng tiếng đồng hồ dầm mình dưới nước, đi dọc suối, vài phút lại ném cái chài nặng 3 - 7kg xuống nước và thu lên. Nó chắc cũng giống cảm giác của người thợ săn khi xưa cầm súng, cầm nỏ đi săn trên rừng.

Ngót 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi trở về với chiến lợi phẩm là 2kg cá suối gồm nhiều loại cá khác nhau trong đó, tôi biết có chạch, cá bống. Về đến nhà, "tắm" qua cá cho sạch sẽ, cá to được đem kẹp que nướng, những con nhỏ cỡ ngón tay út thì nấu canh mẻ.
Dulichgo
Có vào bếp mới thấy rõ cái tài khéo của đồng bào Thái, đơn giản như cách kẹp que tre nướng cá cũng đã đáng để học tập rồi. Que tre cỡ 3 ngón tay được xẻ làm 3, để chừa chỗ cật tre không chẻ, cá kẹp vào 3 que tre, rồi chỉ cài một que ngang ở đầu còn lại, thế là chắc, khỏi cần buộc dây, mà tha hồ lật, không rơi được.

Bữa tối dọn ra với các món cá kiếm được ban chiều cùng thịt lợn cắp nách, vịt xào măng chua, với rau vườn nhà, xôi tím và rượu. Rượu vui, ấm tình người bởi sự chân tình, gần gũi của gia chủ và những món ăn ngon, trong đó có thứ chính mình kiếm được.
Đêm ngủ ngon trong tiếng ru ngủ của lũ ếch ì oạp kêu ngoài vườn. Trong giấc mơ loáng thoáng thấy những làn mây chờn vờn đỉnh núi và những con cá trắng quẫy trong chài…

Theo Ngô Thành Đạo (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Đến xã Nàn Ma vào mùa Mận hậu được thu hoạch ở các thôn: Lùng Sán, La Chí Chải, Nàn Ma...chúng ta sẽ thấy những quả mận to, lúc lỉu trên cành được chăm sóc và cất hái một cách cẩn thận. Mận hậu ở Nàn Ma là loại quả to, tròn, cùi dầy, có vị ngọt lịm, đã trở thành một đặc sản nổi tiếng mà mỗi khi nhắc đến Xín Mần là người ta không quên nhắc đến Mận hậu Nàn Ma.

Giống Mận hậu rất thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở đây, cây mận phát triển tốt, nếu trồng cành ghép thì  khoảng ba năm là ra quả, còn nếu trồng bằng cây mà người dân tự nhân giống thì khoảng 4 năm mới ra quả. Ưu điểm của loại mận này là khi chín quả vàng và to, có độ đường cao nên ăn rất ngọt, thường là rất sai quả mỗi cây trung bình thu hoạch được khoảng 200 kg quả, với giá bán ra thị trường như hiện nay là từ 15 đến 20.000/1 kg, thì trung bình mỗi cây người trồng mận thu được từ 2 đến 3 triệu đồng.

< Thu hoạch mận hậu Nàn Ma.

Hiện tại trong chương trình phát triển kinh tế mũi nhọn của xã, cây Mận hậu được ưu tiên đưa vào phát triển trên diện rộng. Theo kế hoạch năm 2014, toàn xã sẽ phát triển thêm trên 500 cây Mận hậu. Qua đó từng bước giúp người dân địa phương hình thành và phát triển thành vùng chuyên canh cây ăn quả hàng hóa có giá trị kinh tế cao.
Dulichgo
Người dân địa phương cho biết giống Mận hậu đã xuất hiện trên mảnh đất này từ lâu đời. Tuy nhiên, trước đây không ai để ý đến giá trị kinh tế của loại cây ăn quả này nên chưa được chú ý và đầu tư có hiệu quả.

Tìm hiểu về giống cây ăn quả này được biết, để có được một cây Mận hậu cho thu hoạch quả thì phải mất 7 - 8 năm. Chính vì thế, việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển cây mận đã được địa phương chú ý hơn như: lấy gốc cây để trồng, cấy mắt cây mận hậu vào cây mận khác hoặc cấy ghép giống mận hậu ngay tại địa phương. Với phương thức mới này sẽ rút ngắn được thời gian thu hoạch của giống mận từ 7 - 8 năm xuống còn 4 - 5 năm.

Hiện nay thị trường tiêu thụ Mận hậu đã có được những kết quả rất đáng khả quan, góp phần vào sự phát triển kinh tế trên địa bàn xã nói chung và thu nhập từ các hộ gia đình nói riêng. Trong tương lai sẽ phấn đấu đưa cây Mận hậu Nàn Ma trở thành một sản phẩm hàng hóa địa phương có thu nhập và phục vụ cho sự phát triển du lịch trên địa bàn toàn huyện.

Theo Nông Văn Điệp (Xinman Hagiang)
Du lịch, GO!


(Zing) - Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km, xung quanh là đồi núi. Nơi đây được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1999.

Thánh địa Mỹ Sơn thuộc địa phận xã Duy Phú (Duy Xuyên, Quảng Nam), cách Đà Nẵng khoảng 70 km. Khu đền tháp nằm trong một thung lũng có đường kính khoảng 2 km, xung quanh là đồi, núi. Trong mạch núi cao khoảng 100 m đến 400 m từ Đông Trường Sơn qua Mỹ Sơn đến kinh đô Trà Kiệu.

Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của Vương quốc Chăm Pa. Mỗi vị vua sau khi lên ngôi đều đến Mỹ Sơn làm lễ thánh tẩy, dâng cúng lễ vật và xây dựng đền thờ.

Mỹ Sơn là điểm duy nhất của nghệ thuật Chăm có quá trình phát triển liên tục từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13. Vào những năm 700, vua Sambhuvarman xây dựng ngôi đền bằng những vật liệu rất bền vững, còn tồn tại đến ngày nay.

Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần.

Những kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc tinh xảo còn in dấu đậm nét tại Mỹ Sơn.

Vào năm 1885, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một toán lính Pháp. Năm 1898-1899, hai nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến đây nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm.
Dulichgo
Những năm 1903-1904, những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn được L.Finot công bố.

Những đền chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - đấng bảo hộ của các dòng vua Chăm Pa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara - người sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tổ tiên hoàng tộc.

Đền tháp ở Mỹ Sơn được chia thành nhiều cụm, xây dựng theo cùng một nguyên tắc. Kết cấu mỗi cụm gồm có một ngôi đền thờ chính (Kalan), bao quanh bằng những ngôi tháp nhỏ hoặc công trình phụ. Ngôi đền chính tượng trưng cho núi Meru - trung tâm vũ trụ, là nơi hội tụ của thần linh và thờ thần Siva.

Các đền phụ (miếu phụ) thờ các vị thần trông coi hướng trời. Ngoài ra còn có những công trình phụ là những ngôi tháp thường có mái lợp ngói, là nơi khách hành hương sửa lễ, cất giữ đồ tế lễ. Đền thờ của người Chăm không dùng cửa sổ, chỉ các công trình tháp phụ mới có.

Trải qua biến cố, chiến tranh nhiều công trình kiến trúc cổ bị hư hỏng.
Dulichgo
Hiện tại thánh địa Mỹ Sơn thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, khám phá. Nhiều cây cầu mới xây tại Mỹ Sơn cũng mang dáng dấp văn hóa Chăm Pa.

Theo Lê Hiếu - Mạnh Thắng (New Zing)
Du lịch, GO!

(PNO) - Khám phá thành phố lung linh sắc màu về đêm bằng xe ngựa, hay tung tăng trên xe đạp đôi là những trải nghiệm thú vị khi đến với phố biển Quy Nhơn mùa hè.

< Xe ngựa chở khách khám phá thành phố Quy Nhơn. Đây là những chiếc xe ngựa được mua từ Đà Lạt về trang trí đèn, hoa phục vụ du khách.

Đến Quy Nhơn (Bình Định) mùa hè này, bạn có thể khám phá thành phố về đêm bằng xe ngựa. Tour hiện được Trung tâm Văn hóa thể thao TP Quy Nhơn đầu tư thí điểm tại ba tuyến đường lớn: Xuân Diệu - con đường thơ mộng trải dài theo bãi biển Quy Nhơn; Nguyễn Tất Thành - An Dương Vương, đường trung tâm được mệnh danh là đẹp nhất Quy Nhơn.

< Người lớn và trẻ con đều thích thú với dịch vụ du lịch mới mẻ ở Quy Nhơn.
Dulichgo
Những chiếc xe được trang trí với nhiều màu sắc và ánh đèn lung linh chở du khách dạo quanh thành phố. Xuất bến tại đường Xuân Diệu (phía gần Quảng trường trung tâm đường Nguyễn Tất Thành), tùy theo yêu cầu, du khách ngắm biển Quy Nhơn trên xe ngựa chạy dọc đường Xuân Diệu hoặc đi trên con đường trung tâm thành phố ngắm những nhà hàng, khách sạn lộng lẫy khi lên đèn…

< Sau một vòng phục vụ du khách, những chú ngựa trở về bến được tiếp sức bằng cỏ, nước uống để tiếp tục cuộc hành trình. Dịch vụ xe ngựa du lịch bắt đầu từ 6g - 10g tối mỗi ngày, dịp cuối tuần lượng khách tăng hơn ngày bình thường.

Mỗi chuyến xe chở từ 8 đến 12 người, giá mỗi lượt đi là 20.000đ/người. Ngoài việc dạo chơi ở thành phố, dịch vụ xe ngựa du lịch còn cho thuê chụp ảnh, đón dâu với giá 200.000đ - 500.000đ/chuyến tùy theo quãng đường di chuyển.

< Những chiếc xe đạp đôi thích hợp cho các bạn trẻ khám phá ngõ ngách của thành phố biển Quy Nhơn.
Dulichgo
Ngoài dịch vụ đi xe ngựa du lịch, những ai thích khám phá Quy Nhơn bằng xe đạp có thể thuê tại các chủ xe ngay ở Quảng trường trung tâm. Giá mỗi giờ thuê là 30.000đ, có xe đạp đơn, xe đạp đôi cho những đôi tình nhân và xe đạp ba cho gia đình, bạn bè…

< Xích lô nhí dành cho các bé tại Quảng trường trung tâm.

Còn gì thú vị hơn một đêm hè với những vòng xe đạp như ngược về thời thơ ấu.

Không chỉ có xe cho người lớn, các em nhỏ cũng được trải nghiệm làm bác tài xích lô với những chiếc xe xích lô nhí. Giá thuê mỗi chiếc là 20.000đ/giờ.

Theo Thu Dịu (Báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

(TTO) - Nhắc đến xứ núi Cao Bằng, không ai không nhắc đến một đặc sản làm nức danh vùng đất hùng vĩ này. Đó là hạt dẻ Trùng Khánh. Đặc biệt, du khách có thể tự tay mình rang hạt dẻ tại chợ phiên.

Muốn tìm đến vị ngon của hạt dẻ, thực khách phải cất công lặn lội lên tận Trùng Khánh (Cao Bằng), nơi đây được coi là “lãnh địa” của thứ hạt nổi tiếng này. Và tại nơi này du khách mới có cơ hội được ăn loại hạt dẻ do chính bàn tay của cư dân bản địa trồng và hái về.
Xưa kia cây dẻ sống trong rừng già, cây trổ hoa vào đầu xuân rồi kết trái thành từng chùm. Hoa dẻ khi nở thơm nức cả khu rừng nhưng chùm quả dẻ không mấy hấp dẫn bởi vỏ quả là lớp gai xù xì, nhọn hoắt, cầm không khéo là bị đâm bất kỳ lúc nào.

Cuối thu, đầu đông, vỏ quả dẻ tách ra, làm lộ rõ những hạt dẻ tròn tròn, vỏ màu nâu sẫm cứng như sừng mun. Chỉ độ vài ngày hạt dẻ rụng xuống chân gốc.
Dulichgo
Người Dao, người Tày vào rừng nhặt hạt dẻ về luộc, nướng, rang ăn thấy bùi bùi, ngọt ngọt. Biết đây là loài cây cho loại hạt ngon và bổ dưỡng nên họ mang giống dẻ về trồng trong khu vườn nhà mình, mùa dẻ rụng hạt, họ nhặt và mang ra chợ bán.

Thú nhất là được đi dưới tán rừng dẻ bạt ngàn vào tiết trời se se lạnh cuối mùa thu ở xứ sở Trùng Khánh để nhặt hạt dẻ. Người dân ở đây không trèo lên cây để hái hạt mà chờ cho dẻ đúng độ già, tự tách vỏ bao bên ngoài và rơi xuống đất, bởi khi ấy hạt mới đủ độ ngọt bùi.

< Hạt dẻ Trùng Khánh thu hoạch vào dịp cuối thu đầu đông.

Từ bao đời nay, hạt dẻ là đặc sản trong vốn ẩm thực của người vùng cao Trùng Khánh ở Cao Bằng. Món ăn này dân dã và chế biến cũng không cầu kỳ.

Muốn mua được hạt dẻ ngon, bạn nên cất công vào tận trong các bản Dao, bản Tày để mua tại nhà hoặc ra chợ phiên vào cuối tuần. Khi chọn hạt dẻ nền cầm lên quan sát, hạt dẻ Trùng Khánh chính hiệu là loại hạt nâu bóng, nhiều lông, hạt to, hình tròn đều.

Hạt dẻ ngon mỗi vị ở mỗi cách chế biến. Có thể luộc hạt dẻ trong nước sôi, có thể nướng trên than hồng hay rang hạt dẻ trong chảo. Tất cả đều làm say lòng người.

< Du khách có thể tự tay mình rang hạt dẻ tại chợ phiên.

Khi chế biến món hạt dẻ luộc, người ta dùng dao rạch một đường chạm vào tận lõi để hơi và nước có thể vào bên trong cho hạt dẻ nhanh chín. Đổ nước xâm xấp, rắc thêm chút muối hạt rồi đun chừng 25-30 phút là có thể mang ra thưởng thức.
Dulichgo
Nếu rang phải chuẩn bị một ít đá sỏi nhỏ, rửa sạch cho vào chảo cùng với hạt dẻ. Có khi người chế biến lại dùng muối hạt rang cùng. Đây là cách tạo nhiệt để hạt dẻ nhanh chín và chín đều.

Cũng giống như luộc hạt dẻ, phải dùng dao khía lên bề mặt hạt rồi mới cho vào rang cùng đá. Khi rang không cần đảo hạt liên tục vì có lúc cần ngâm cho hạt dẻ tiếp xúc với đá nóng.

< Hạt dẻ rang thơm ngon và ngọt bùi.

Những buổi tối mùa đông giá lạnh ngồi bên bếp lửa, không có thú nào bằng thú nướng hạt dẻ trên than hồng. Cũng dùng dao khía lên vỏ hạt rồi đặt lên vỉ bên dưới là than hồng. Hạt dẻ sẽ dần tách vỏ, lõi bên trong sẽ vàng dần, chừng 20 phút là có thể bóc hạt dẻ thưởng thức ngay tại bếp.
Dulichgo
Mỗi cách chế biến sẽ mang đến cho hạt dẻ một dư vị riêng. Hạt dẻ luộc thơm bùi và bở ngọt. Vị thanh ngọt tự nhiên của dẻ khiến thực khách cảm thấy sảng khoái tâm hồn. Hạt dẻ rang ráo nước hơn, vừa thơm giòn, vừa ngọt đậm. Còn hạt dẻ nướng thì giòn nơi bề mặt.
Hạt dẻ Trùng Khánh thưởng thức một lần thì nhớ mãi và muốn mua về làm quà...

Theo Nguyễn Thế Lượng (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

(TTO) - Chẳng hẹn mà thành, sáng cuối tuần không để mặt trời nhô cao, chúng tôi cùng nhau lang thang theo câu thơ của cụ Hoàng Cầm năm xưa để tìm về "bên kia sông Đuống".

< Thuyền nhỏ lặng lẽ khua mái chèo dưới dòng sông Đuống.

“Em ơi!
Buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”...

< Đền Phù Đổng uy nghi, cổ kính trong nắng mới.

1. Không mất quá nhiều thời gian cho hành trình chỉ 20km từ trung tâm Hà Nội, chúng tôi đã tới được bờ bên kia sông “cát trắng phẳng lì”. Đó là vùng quê Phù Đổng, huyện Gia Lâm, nơi có lẽ đặc biệt hơn những làng quê khác bởi đã sinh ra một trong Tứ Bất Tử của Việt Nam - Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng.

< Sau phiên chợ quê, nhiều người lại xuống nghỉ chân bên đền.

Có lẽ với tuổi thơ của mỗi người truyền thuyết được thầy cô, ông bà kể cho nghe đều in đậm trong tâm hồn. Khi ta đã lớn lên rồi, có kiến thức và suy luận dù biết rằng truyền thuyết chỉ là câu chuyện huyền diệu, đôi khi phi thực tế.

< Đôi rồng đá hai bên cổng đền Phù Đổng.

Nhưng chính những truyền thuyết đẹp in đậm từ thời thơ ấu đã nuôi dưỡng tâm hồn, tình yêu và bản lĩnh cho mỗi chúng ta khi đã trưởng thành. Truyền thuyết Thánh Gióng cũng vậy, nó như một sự ước lệ tượng trưng cho lòng yêu nước, chống giặc ngoại xâm và sức mạnh của tuổi trẻ của người Việt.

Và chúng tôi đã mang theo trong mình  một chút ước mong trở về với dòng sông tuổi thơ khi tìm về ngôi làng ấy.

< Chiếc khánh đá cổ ở chùa Kiến Sơ.

2. Bây giờ làng quê Phù Đổng đã đổi thay mạnh mẽ, đô thị hóa phát triển kéo theo sự giàu có. Để tìm một triền đê với đàn trâu đang thảnh thơi gặm cỏ, xa xa lũy tre làng với những cánh cò trắng là một sự cứng nhắc không tưởng.

Nhưng không phải vì thế mà cái mầu xưa cũ đã biến mất khỏi vùng đất đã nuôi dưỡng ra truyền thuyết Thánh Gióng.

< Người dân giặt chiếu dưới hồ nước.

Vẫn còn đây phiên chợ quê bình dị họp ngay trên đê mỗi sớm hôm. Rồi từ trên triền đê ấy, chúng tôi đã bước từng bậc gạch rêu cỏ để xuống thăm đền Phù Đổng.
Dulichgo
Đền Phù Đổng cùng với đền Hạ, chùa Hương Hải, chùa Kiến Sơ tạo thành một quần thể di tích độc đáo ở vùng quê này. Trong đó tất nhiên đền Phù Đổng là kiến trúc chính, đồ sộ và uy nghi nhất.

< Giếng cổ rêu phong trong đền Phù Đổng.

Thủy đình cổ kính với cây đa già như một nét vẽ đầu tiên của bức tranh nhuốm mầu truyền thuyết. Cây đa hàng trăm năm tuổi đã chứng kiến bao đổi thay của một ngôi làng ven đô.

Ông cụ làm công tác Thủ từ ở đền Phù Đổng bảo mấy năm nay khách thập phương mới coi đây là một điểm đến trong hành trình du lịch ven bờ sông Đuống. Chúng tôi nghĩ có lẽ bởi lễ hội Gióng đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại.

< Bình yên nơi chùa Kiến Sơ.

3. Không khói hương, chẳng bon chen câu kéo của những quán hàng rong… có lẽ đó là điều hạnh phúc với chúng tôi. Bởi cái tĩnh lặng của làng quê khi ngồi bên gốc đa sẽ du hồn ta lạc vào miền truyền thuyết.
Dulichgo
Và cũng bởi trước chuyến đi mọi người đều muốn tránh sự ồn ã của nhịp sống nội thành. Vậy nên không phải mùa lễ hội, chẳng đúng hôm rằm, mồng một khi vãn cảnh nơi đây lại cho ta cảm giác khoan thai lạ thường.

Tôi cứ ngắm mãi cây đa cổ thụ với những bà lão ngồi dưới gốc tâm tình sau phiên chợ sớm, rồi ngước lên cổng đình uy nghi mà bỗng như thấy mình đã thích vùng đất này mất rồi.

< Gốc đa già - nơi mọi người tâm tình sớm hôm.

Nhiều đứa trẻ vẫn luôn tin truyền thuyết là có thật và khi lớn lên không ít người đã tò mò đi tìm sự thật hoang đường ấy. Chúng tôi cũng vậy.

Sau khi lang thang ở đền Phù Đổng, chùa Kiến Sơ, mọi người bắt đầu rủ nhau đi xuống tận bến sông Đuống để tìm xem có dấu chân khổng lồ ngày xửa ngày xưa không. Dấu chân mà mẹ Thánh Gióng đã ướm thử rồi sinh ra Ngài.
Dulichgo
Tre đằng ngà như trong truyền thuyết cách xã Phù Đổng vài cây số giờ chẳng còn khóm nào nữa và tất nhiên dấu chân thần thánh ấy chưa bao giờ tồn tại ở đời thực. Thay vào đó, giờ đây nằm bình yên ngoài chân đê ấy là ngôi đền Hạ, nơi thờ người đàn bà đã sinh ra Phù Đổng Thiên Vương.

< Phiên chợ quê bình dị bên triền đê.

4. Khi cái nắng đã nhô cao đỉnh đầu, mọi người lại cùng nhau vào một quán nhỏ bên chợ để thưởng thức bát chè, que kem mát lạnh.

Không cần phải có những chuyến đi xa, đắt tiền mà chỉ một buổi lang thang nơi triền đê sông Đuống cũng đã nạp đủ năng lượng sống, cảm hứng để chúng tôi đón một tuần lao động mới.

Theo Hải Dương (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

(CPN) - Tại chợ Bà Rén (ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam), với mỗi lần bồng heo thuê để cân, chị em được nhận khoảng 2.000 đồng.

< Ngày nào chợ heo Bà Rén cũng tấp nập kẻ bán, người mua.

Theo một số người cao niên, sở dĩ có cái tên Bà Rén là bởi trước đây ở bên sông của làng có bà tên Rén chèo đò. Khách sang sông hễ cứ đến bến đò gọi tên bà là bà đi sang ngay dù cho trời sáng hay tối, mưa hay nắng.

Hàng chục năm chỉ duy nhất có bà chèo đò qua lại. Sau khi bà mất, người dân vùng này lấy tên bà đặt tên cho làng, nay trở thành thôn Bà Rén, xã Quế Xuân 1, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

< Những chú heo trông khá bắt mắt được nhốt trong các sọt, rọ sẵn sàng cho người mua chọn lựa.

Trước đây, trong chợ Bà Rén cũng có khu hàng dành riêng cho việc mua bán heo nhưng do diện tích hẹp mà người mua bán heo ngày một tăng nên người ta phải chuyển ra phía đất trống gần cầu Bà Rén, tiện lợi vì vừa gần sông vừa gần đường quốc lộ.

< Người mua trực tiếp lựa chọn những chú heo ưng ý.
Dulichgo
Bước chân vào chợ sẽ gặp ngay hình ảnh những chú heo eng éc, ụt ịt đủ các loại. Từ heo con, heo choai đến heo trưởng thành, heo nái,…được nhốt trong các sọt, rọ hay bồng trên tay. Chợ heo ở đây mua bán rất nhanh chóng, người buôn heo mua heo từ những người dân ở các vùng xung quanh đem đến hay của các lái buôn sau đó gom hàng, bán lại cho các lái buôn khác.

Những chú heo trong chợ heo này có khi được chuyền qua tay mấy bà chủ rồi mới được các lái buôn đưa lên xe vào Nam ra Bắc hoặc tỏa lại về các chợ quê khác của xứ Quảng để bán.

Người đến mua heo hay bán heo ở đây cũng có nhiều cách mua bán khác nhau. Có khi chỉ nhìn thoáng qua bầy heo là trả giá, những người lành nghề nhìn qua con heo là đoán ngay trọng lượng mà không cần cân.

< Bồng heo - một nghề mưu sinh độc đáo của phụ nữ vùng lân cận sông Bà Rén.
Dulichgo
Với những chú heo choai hay heo con, để cân heo nhanh chóng nhất, người ta bồng cả người lẫn heo cùng leo lên cân sau đó cân lại trọng lượng người trừ ra là biết ngay trọng lượng của chú heo. Nghề bồng heo thuê tại chợ Bà Rén được xem là một trong những nghề độc đáo nhất ở Việt Nam.

Từng chú heo ngoan ngoãn nằm im lìm trong vòng tay của các chị. Tùy theo trọng lượng, mỗi lần “bồng” một chú heo để chuyển từ giỏ này sang giỏ khác của người mua, người bồng được trả khoảng 2.000 đồng trở lại. Chợ đông đúc không chỉ vì giá cá phải chăng, giống heo tốt mà heo nơi đây khi xuất hàng trông rất sạch sẽ, lông đẹp, không trầy trụa.

< Từ đây, heo được chở đến các phiên chợ trong và ngoài tỉnh.

Tồn tại từ năm 1970, ngày nào chợ Bà Rén cũng tấp nập. Mỗi ngày, cả ngàn con heo được người mua chở đi ra Bắc vào Nam. Giữa cuộc bán mua, những câu chuyện thường ngày, những tâm sự đời thường tại chợ lại mộc mạc, chân chất và đầy nghĩa tình.

Theo Thanh Ly (Chuyện Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

(PTT) - Ngôi chùa đó ngự ở giữa chốn rừng hoang, núi thẳm. Trải qua bao biến động của lịch sử cùng sự tàn phá của thiên nhiên, chùa Chiền Viện, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La vẫn là chốn linh thiêng và hàm chứa bao câu chuyện tưởng như chỉ có trong truyền thuyết.

< Chùa Chiền Viện đã bị đổ nát.

Những người phá hàng cây cổ thụ quanh chùa đều gặp những chuyện chẳng lành, có người chết bất đắc kỳ tử. Ngôi chùa cổ này còn có trên 60 bức tượng được làm bằng đồng đen quý giá.

Lễ tắm tượng

Chiền Viện được coi là ngôi chùa cổ kính nhất đất Tây Bắc. Giữa cái không gian mênh mông tưởng như bất tận của đất Sơn La, chùa Chiền Viện được coi là biểu tượng của sự thịnh trị của xứ Thái xảo xia. Phật giáo đã thấm đẫm tới từng bà con dân bản nơi đây. Chẳng thế mà những gì thuộc về ngôi chùa đều được bà con bảo vệ và giữ như vật thiêng trong gia đình. Trải qua bao thăng trầm, đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa cổ này cũng không tránh khỏi sự phá hoại của binh lửa điêu tàn.

Nhớ về một thời thịnh vượng và thanh bình đã từng tồn tại ở đất này, cụ Sa Thị Lan, người dân bản Vặt vẫn không giấu nổi niềm hãnh diện, cụ bảo: “Sư sãi trong chùa đều là những bậc nam nhi có võ công thượng thừa. Họ trừ gian, diệt ác, chế quỷ, giúp dân yên tâm sinh sống. Họ cũng là những người sở hữu các bài thuốc, mẹo chữa bệnh hiếm có người nào bì được. Họ đi đến đâu là dân được sống yên ổn ở đó”.

Hình ảnh ngôi chùa thiêng đã ăn sâu vào tiềm thức của bà con người Thái. Ngày đó đất xung quanh chùa cây cối bạt ngàn. Những thân cây to hàng chục người ôm dựng lên như những bức tường thành vững chãi. “Tôi còn nhớ rõ, mỗi năm các nhà sư dùng ống tre lấy nước trên thượng nguồn. Thứ nước suối từ rừng nguyên sinh, không lẫn tạp chất, nơi mà con người ít khi đặt chân tới để về tắm tượng”, cụ Lan vẫn rưng rưng một niềm xúc động khi nhắc về ngôi chùa thiêng của bản mình.

Giờ đã ở cái tuổi gần đất xa trời, hoài niệm về những ngày tháng vui đêm cùng núi rừng dường như vẫn luôn hiển hiện trong tâm trí của cụ Lan.

Cụ Lan kể: “Nước vác về được đổ vào trong một cái ang to. Thứ nước suối nguồn trong vắt có thể nhìn thấy tận đáy của ang. Ngày đó rừng nghiến, đặc biệt là loài cây gù hương còn nhiều nên khi nước nguồn chảy ra, nước suối nơi đây cũng có mùi thơm thoang thoảng hương rừng. Buổi tắm tượng diễn ra vô cùng linh thiêng. Các nhà sư dựng cái sạp lứa. Phía trên trải vải điều vuông vức. Từng bức tượng được mang ra theo thứ tự từ cao tới thấp.

Có những bức tượng to, 40 trai bản dùng đòn tre đực dài 4m kết lại với nhau thành một cái cáng mới khiêng nổi. Những bức tượng này được làm bằng đồng đen nên rất nặng. Trước lúc khiêng tượng, các nhà sư phải làm lễ xin phép các ngài.

Lễ tắm tượng thường diễn ra vào mùa Thu. Khi đó đất Tây Bắc đã ngớt mưa, khí hậu khô ráo, bầu trời trong xanh và sâu thăm thẳm, giữa sân chùa lễ tắm tượng diễn ra vô cùng uy nghi và linh thiêng. Sư trụ trì cầm gáo tre, khoác áo cà sa màu vàng, tay trái lần tràng hạt, tay phải dùng gáo tre múc nước trong ang được thả đầy hoa rừng ra tắm tượng. Mấy chú tiểu giúp việc đi chân đất, thành kính dùng vải điều thấm khô từng bức tượng rồi mới chuyển vào bệ tượng.

Buổi lễ diễn ra vô cùng uy nghiêm, bà con dân bản phải đứng từ xa để chiêm ngưỡng. Hơn 60 bức tượng được các trai bản mang ra lần lượt. Sư trụ trì chùa làm việc từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi mặt trời khuất dần sau đỉnh núi Pha Đạnh (núi đá đỏ) mới kết thúc”.

Nghi lễ linh thiêng đó đã ăn sâu vào tiềm thức của bà con người Thái nơi đây. Bà con rất sùng Phật. Ai cũng một lòng làm việc thiện, họ cùng nhau dựng xây đất Mường Sang thành một xứ sở thanh bình. Đây cũng là lý do giải thích vì sao, tất cả những tài sản quý giá liên quan đến ngôi chùa đều được bà con gìn giữ bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ tồn tại, chùa Chiền Viện vẫn hiện lên uy nghi giữa đất trời Tây Bắc. Thế rồi khi chiến tranh nổ ra, vẻ đẹp trường tồn của một ngôi chùa dần bị hủy hoại. Những vật báu trong chùa tản mát, kéo theo đó là bao chuyện buồn xảy ra ở đất Mường Sang này.

Lấy vật gì thì phải trả lại vật đó

Sau bao năm đất Tây Bắc nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bà con xứ Thái cũng trải qua trăm đắng, ngàn cay. Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Nhật đảo chính Pháp, loạn lạc, lửa cháy đã lan tới Mường Sang. Bà con người Thái tản mát, ruộng đồng tốt tươi một thuở để cho cỏ mọc. Những ngôi nhà sàn bề thế, rộng rãi uy nghi bỗng trở nên hoang lạnh. Ngôi chùa cổ bị xuống cấp, kẻ gian được dịp lộng hành, chúng nhảy vào chùa lấy tượng mang bán. Những bức tượng tưởng như bất khả xâm phạm bị mất dần, mất mòn. Binh lửa, loạn lạc qua đi, bà con người Thái trở lại quê hương, chứng kiến cảnh hoang tàn, đổ nát khiến ai cũng nhói lòng. Ngôi chùa linh thiêng đã bị phá hoại, tường đổ, rêu phong phủ đầy.

Từ đó giá trị đạo đức dần bị xuống cấp, sự tham lam được phen trỗi dậy, lòng người thay đổi. Khu đất thiêng của chùa bắt đầu bị xâm phạm, nhiều người đã trà đạp lên những giá trị đạo đức mà suốt 7 thế kỷ trôi qua đã được các vị sư và bà con dân bản dày công vun đắp. Đồ của chùa bị người dân mang về sử dụng làm của riêng.

Giờ đây người dân nơi đây không được chứng kiến lễ tắm tượng linh thiêng năm nào nữa, nhưng có một chuyện mà nhiều người không thể tin nổi khi các cán bộ vào chùa chuyển tượng về bảo tàng. Ông Hà Trung Lâm - người dân ở bản Vặt vẫn còn nhớ như in về buổi chuyển tượng diễn ra cách đây 20 năm. Ông Lâm kể, vì chùa liên tục bị mất trộm, tượng quý, chuông vàng bị lấy đi. Bà con báo việc này lên huyện. Ngay sau đó, các cán bộ cho ôtô xuống chở tượng đi.

Chiếc ôtô tải đi vào tận sân chùa, họ khiêng tượng nhưng không thể nào nhấc nổi, rồi họ kết hợp cả máy móc nữa, chẳng hiểu sao các bức tượng không suy chuyển, phải hô hào nhiều người xúm lại mới đưa được tượng lên ôtô. Khi xếp được 5 bức tượng lên thùng xe, tự nhiên xe ôtô bị xịt lốp. Phải cho người đi gọi thợ vá lốp, vá xong lốp thì không thể nổ máy. Cánh tài xế có kinh nghiệm chạy đường trường hiểu xe như lòng bàn tay cũng đành bó tay.

Chứng kiến câu chuyện rất thần bí này, các cụ trong bản Vặt mới nhớ lại lễ tắm tượng của các sư trụ trì khi xưa, trước khi muốn rời tượng khỏi chùa phải làm lễ xin các ngài, mới hy vọng chuyển tượng đi được. Buổi lễ diễn ra nhanh chóng, thay vì đưa các ngài lên ôtô chuyển đi, mấy chục thanh niên của bản Vặt phải làm cáng như trước, khiêng các bức tượng đó vượt 4km đưa ra Bảo tàng huyện Mộc Châu. Sau đó những bức tượng này được chuyển lên Bảo tàng tỉnh Sơn La.

Nói về những bức tượng đồng đen này, hôm rồi đoàn cán bộ của xã Mường Sang lên tỉnh họp. Ông Hà Trung Lâm, Chủ tịch HĐND xã đã mạnh dạn kéo đoàn đến bảo tàng tỉnh đề đạt nguyện vọng được ngắm những bức tượng từng được trưng bày tại chùa Chiền Viện. Đoàn thuyết phục mãi, bảo tàng cũng chỉ đồng ý cho ông Lâm và 3 người khác ở bản Vặt được vào chiêm ngưỡng. Trải qua bao thăng trầm, bao thế hệ đời người ở bản Vặt đã qua đi, vậy mà những bức tượng vô giá của chùa Chiền Viện vẫn uy nghi và vững chãi như dãy núi Pha Đạnh đã tồn tại từ ngàn đời nay.

Chẳng hiểu sao, ông Lâm lại có hành động liều lĩnh là dùng ngón tay gõ vào thân tượng để kiểm tra xem đây có phải là tượng thật hay không. Dù vô tình hay hữu ý, ông Lâm cũng không nghĩ là ngay trong ngày hôm đó ông gặp chuyện chẳng lành. Trên đường trở về bản, ông đã bị tai nạn xe máy. Rất may vụ tai nạn đó chỉ làm ông xây xát phần mềm, tựa như một lời cảnh báo nhẹ nhàng đến với ông. Từ đó mỗi khi lên tỉnh họp, ông Lâm cũng không dám đến xem tượng nữa.

Giờ đây chùa Chiền Viện bị đổ nát, mái nhà bị sập. Bức tường được xây bằng hàng vạn hòn đá mài tưởng như mưa nắng khó bề xâm thực, nay nằm trơ ngan cùng tuế nguyệt. Khi bức tường cuối cùng của chùa bị đổ, người dân nơi đây đã lấy những hòn đá mài này về dùng. Loại đá mài này rất quý, dao, kéo, cuốc… bị cùn chỉ cần liếc đi, liếc lại vài lần là sắc lẹm trở lại. Đá quý là vậy, nhưng những người dám mang đá xây chùa về nhà đều gặp những chuyện chẳng lành.

Không ai bảo ai, họ cứ lần lượt mang đá trả lại chùa. Ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt xác nhận: Đến giờ không ai dám động đến bất kỳ thứ gì ở chùa nữa. Chỉ tiếc rằng, bao đồ chân quý năm xưa của chùa cứ mất dần. Giờ đây, bà con chỉ giữ lại được 7 cái bát cổ, thứ quý giá duy nhất còn sót lại.

Mất mạng vì động vào tấm bia thiêng

Đến giờ người dân nơi đây vẫn còn nhớ như in tấm bia cổ của chùa khắc trên nền đá xanh, ghi lại lịch sử của chùa và sự đóng góp của những tấm lòng hảo tâm tu bổ chùa. Tấm bia bị vứt chỏng chơ ngoài vườn nên cụ Hà Văn Uộn ở bản Vặt nhà ở gần chùa đã nhặt về làm miếng lót chân cầu thang nhà sàn. Tấm bia vuông vức đặt rất vừa chân. Mùa mưa bước vào không bị trơn, mùa hè bước lên tấm bia đá thì mát lạnh. Ai cũng nghĩ ông Uộn may mắn vì “kiếm” được tấm bia đẹp đẽ đó.

Ít người biết rằng, từ ngày mang tấm bia thiêng của chùa về ông Uộn gặp biết bao nhiêu là chuyện tai ương. Ngay bản thân ông Uộn cũng không lý giải nổi ma xui quỷ khiến thế nào mà ông dám trà đạp lên những giá trị đã được bao đời dày công vun đắp. Đầu tiên là lợn, gà nhà ông Uộn nuôi thường xuyên mắc bệnh và không lớn được. Trong khi đó ở cách chùa khoảng trăm mét, đàn lợn, đàn gà của bà con nuôi lớn nhanh như thổi. Lạ hơn nữa là “nà” (ruộng) của ông Uộn mọi năm lúa tốt bời bời. Từ khi ông mang tấm bia về lót chân cầu thang nhà sàn, lúa chẳng lên được. Cũng trên thửa ruộng đó, cũng cách chăm sóc giống nhau mà lúa của bà con lên tươi tốt.
Dulichgo
Quá sợ trước những sự việc diễn ra cùng một lúc và có hệ thống, ông Uộn mới giật mình khi nhìn lại tấm bia của nhà chùa kê trước nhà. Sau nhiều lần đắn đo, ông Uộn quyết định mang trả lại tấm bia của nhà chùa. Ông Uộn vừa đưa tấm bia lên xe chở trả chùa thì gặp đứa cháu tên là Hà Văn Cấp. Anh Cấp ngỏ ý muốn giữ lại tấm bia đó cho người bạn làm nghề ba toa ở ngoài xã. Sau mấy ngày hẹn hò, người bạn của anh Cấp là Khánh dẫn theo một người nữa tên là Thâu về xóm mua lợn. Đợi mua xong lợn, họ sẽ chuyển cả tấm bia kia ra ngoài.

Chuyện chỉ có vậy, không ngờ tấm bia thiêng đó một lần nữa khiến bà con người Thái nơi đây phải giật mình vì chuyện xảy ra ngay buổi chiều nhập nhoạng hôm đó. Vợ chồng anh Cấp dẫn Khánh và Thâu đi vào xóm bắt lợn, lúc này sương đã giăng khắp lối khiến con người ta dễ nảy sinh tâm trạng mơ hồ. Chị Vui vợ anh Cấp đi trước, Khánh, Thâu và anh Cấp đi sau cùng. Dọc đường chẳng hiểu sao, anh Cấp đổ cho Khánh và Thâu lợi dụng đêm tối “tòm tem” vợ của mình. Cuộc cãi vã diễn ra khi 4 con người đi qua cửa chùa Chiền Viện.

Anh Cấp nhảy xổ lên bóp cổ Khánh. Hai người đàn ông vật lộn, cãi nhau ỏm tỏi. Thâu đi phía sau liên lao can ngăn hai người đàn ông đang ghì nhau dưới tán cây cổ thụ. Can ngăn không được, sợ anh Cấp đánh người bạn của mình, Thâu đã dùng đèn pin khảo vào gáy anh Cấp. Thâu cũng không ngờ cú đập đèn pin định mệnh đó đã cướp đi mạng sống của anh Cấp. Chuyện xảy ra quá nhanh khiến bà con trong bản chạy ra can ngăn cũng không kịp. Anh Cấp mất mạng, trong khi Khánh và Thâu rơi vào vòng lao lý. Chị Vui trở thành góa phụ.

Nhiều người cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự việc trên do Khánh muốn lấy tấm bia của chùa đi nơi khác. Việc này có đúng như thế hay không đến giờ chưa ai dám khẳng định. Tuy nhiên, từ khi án mạng xảy ra trước chùa thì không ai dám mang tấm bia này ra khỏi chùa nữa. Tấm bia uy nghiêm, được khắc chữ Hán rất rõ nét được bà con làm lễ và đưa lại vào chùa.

Lại nói đến chuyện ông Uộn, sau bao đời sinh sống an lành ở bản Vặt, tự nhiên, ông thấy trong người khó ở, làm ăn không vào. Ông đã bán đất mảnh đất cho anh Hà Văn Ngọc (con ông Hà Văn Khoát) để chuyển đi nơi khác. Chị Vui vợ của ông Cấp cũng không ở trong bản Vặt nữa. Theo cái lệ đã hình thành từ xưa, người Thái rất ít khi di chuyển nhà khỏi nơi chôn rau cắt rốn, phải vì chuyện gì tày đình lắm, họ mới chuyển chỗ ở.

Mong một ngày phục dựng lại ngôi chùa

Đưa chúng tôi đi thăm ngôi chùa cổ, ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt như cảm thấy muôn phần có lỗi vì năm xưa các cụ người Thái nơi đây không tìm cách ngăn chặn sự xâm lấn của những kẻ xấu vào tàn phá chùa. Ngay bản thân người dân địa phương cũng không ngần ngại phá đi những gì thuộc là quý giá nhất của ngôi chùa. Đi đến một gò đất gần chùa, ông Trọng bỗng dừng lại. Chỉ tay vào nấm đất, ông Trọng bảo, đây là ngôi mộ của nhà sư ở nơi khác đến chùa.

Ông này bị hổ vồ và lôi đi mất một phần thân thể. Bà con phát hiện ra thì mọi chuyện đã quá muộn. Một phần thi thể của ông đã được bà con chôn cạnh dãy xoài cổ thụ. Năm xưa, xung quanh chùa là những cây cổ thụ to bằng cả gian nhà che chắn. Dãy xoài hơn chục cây tựa như những cột chống trời. Mỗi cây cho cả tấn quả. Bà con trong bản ăn thỏa thê không hết còn mang đi cho bản khác. Vậy mà giờ đây, hàng xoài cổ thụ đó chỉ còn trơ trọi những gốc đen sì. Nó tựa như những dấu chấm than giữa trời.
Dulichgo
Ông Trọng còn kể, phía sau chùa là cây vải cổ thụ. Hơn một trăm hộ dân ăn thỏa thích cũng không hết, giống vải quả to, mọng nước lại có màu đỏ ối. Các bản khác cũng được thơm lây từ cây vải quý này. Thế rồi nhiều người cả gan chặt cả cành vải đi để lấy đất làm nương, làm rẫy. Ông Hà Văn Sọm - hộ dân ở gần chùa đã liều lĩnh chặt cành vải to và bị ngay quả báo. Từ hôm chặt cành vải, ông Sọm liên tục gặp chuyện chẳng lành.

Sau đó ít lâu người con trai của ông bị chết không rõ nguyên nhân. Tuy ngôi chùa đã bị hoang phế nhưng không hiểu sao những hộ dân liều lĩnh xây nhà gần chùa đều ở chẳng yên. Đến giờ ba gia đình đã phải chuyển nhà đi nơi khác ở. Đất xung quanh chùa đang dần được trả lại. Sau bao chuyện xảy ra, nên các hộ dân nơi đây đã chùn tay trước những việc mà nhiều người đã đánh liều làm là xâm phạm đến chùa.

Bao thăng trầm của lịch sử đã trôi qua, ngôi chùa cổ giờ chỉ còn lại cái nền gạch khi xưa. Bà con người Thái ở bản Vặt đã quyên góp tiền dựng tạm cái mái lợp để dựng tượng thờ Phật. Ước mong của bà con là một ngày nào đó, ngôi chùa sẽ được phục dựng lại. “Các tăng ni, Phật tử ở khắp nơi về bản Vặt cầu an cũng sẵn lòng quyên góp xây chùa. Giờ chúng tôi chỉ mong, các cấp chính quyền địa phương cùng phối hợp thực hiện, tôi tin ngôi chùa cổ năm nào sẽ sớm được phục dựng”, ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt cho biết.

Chùa Chiền Viện, còn gọi là chùa Vát Hồng, nay thuộc bản Vặt, xã Mường Sang. Chùa được tạo lập từ thế kỷ XIII, do đồng bào Thái Mộc Châu xây dựng. “Bản Vặt” - theo tiếng Thái chính là âm chệch của “Phật” và tên hội chùa lễ Phật vào tháng 5 âm lịch ở đây là “Chách Vặt, Chách Và”.

Vào thế kỷ XIII, chùa Chiền Viện là một kiến trúc Phật giáo lớn ở miền núi Tây Bắc, với số tượng Phật được thờ trong chùa là: 1 pho tượng lớn, 8 pho vừa, 56 pho nhỏ đều bằng đồng, 2 pho bằng thiếc, 1 pho nhỏ bằng ngà.

Nhưng di tích chùa Chiền Viện đó bị đổ nát từ năm 1947, còn đến ngày nay, lại chỉ là một nền chùa khoảng 100m2, mấy trụ cột và mảng tường xây bằng đá với những vòm cửa đã xuống cấp, đổ nát và 2 bệ thờ. Đặc biệt là còn một tấm bia đá (99cm x 64cm x 15cm), một nửa khắc chữ Thái (mà theo giáo sư dân tộc học Hoàng Lương thì đây là chữ "Thái trắng" ở vùng này) và một nửa khắc chữ Hán. Nội dung văn bia, cả hai ngữ đều thống nhất nói về việc xây dựng "vắt ni" (chùa này - tiếng Thái), với những người đóng góp tính bằng "công" và "hào" (tiếng Thái), trong đó có một số chức sắc (tên là "Tạo Tiêng", "Chiêu Tổn" - tiếng Thái).

Phần Hán ngữ của bia (theo nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chiếm) nói rõ: đây vốn là ngôi chùa cổ thờ Phật, đã bị huỷ hoại. Ngày 10 tháng 3 năm Duy Tân thứ XI (Mậu Thân, 1908) khởi công xây dựng lại, và đến ngày lành, tháng giêng năm Kỷ Dậu, 1909 thì hoàn thành. Ông Xa Văn Kỳ, tri châu, cùng nhân dân trong vùng Mộc Châu, hưng công xây dựng. Đóng góp vào việc xây dựng là rất nhiều người địa phương và cả từ phương xa, trong đó có "Đà Bắc tri châu Đinh Công Nội", "Đà Bắc tri châu Xa Văn Nghĩa", "Mai Châu tri châu Hà Công Chính"… Hãy một lần đền với nơi đây, để cảm nhận sự thanh tịnh, thiêng liêng của một di tích cổ xưa.

Theo Linh Nhi (Báo Petrotimes)
Du lịch, GO!

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.